Tuesday, January 17, 2012
Thưa các đồng chí Trung ương, 

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị, 

Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần đổi mới, thiết thực, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các đề án, báo cáo. Đã có gần 400 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và Hội trường; nhiều đồng chí gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào các dự thảo nghị quyết. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua nội dung các nghị quyết của Hội nghị và đã bầu bổ sung Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với kết quả rất tập trung. Trước khi kết thúc Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, tôi xin phát biểu mấy ý kiến, làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng của Hội nghị. 

1- Về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2011 - 2020 

Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và quyết định ban hành Nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kết cấu hạ tầng từ nay đến năm 2020. 

Hội nghị nhất trí đánh giá: Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dành sự quan tâm lớn đến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Nhờ đó, hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giảm nhẹ thiên tai và bảo đảm an ninh - quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền. Một số công trình hiện đại đã được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước. Năng lực công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực trên các lĩnh vực xây dựng, quản lý và vận hành kết cấu hạ tầng được nâng lên. Nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng lớn và đa dạng. Các hình thức đầu tư xây dựng, vận hành, kinh doanh được đa dạng hoá, mở rộng; đầu tư của các doanh nghiệp vào các dự án giao thông ngày càng nhiều; sự đóng góp tự nguyện của nhân dân vào các công trình xây dựng hạ tầng ở nông thôn ngày càng lớn. 

Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hạ tầng đô thị kém chất lượng và quá tải. Hạ tầng xã hội chất lượng thấp, thiếu về số lượng, kém về chất lượng, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục. Hạ tầng thông tin phát triển chưa đi đôi với quản lý, sử dụng một cách hiệu quả. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển chậm, chưa đồng đều, nhất là ở các tỉnh miền núi và đồng bằng Sông Cửu Long. Nhiều công trình chậm tiến độ, kém chất lượng, chi phí cao; công nghệ vận hành dịch vụ hạ tầng còn thấp, hạn chế tính cạnh tranh của nền kinh tế. 

Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém nêu trên, về chủ quan, là do tư duy về phát triển kết cấu hạ tầng chậm đổi mới, chưa phù hợp với cơ chế thị trường; đầu tư vẫn dựa vào ngân sách nhà nước là chủ yếu. Chưa tạo được sự ủng hộ mạnh mẽ và chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng xã hội. Công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, phân cấp đầu tư chưa phù hợp; có nơi, có lúc còn bị chi phối bởi tư tưởng cục bộ, lợi ích nhóm. Công tác quy hoạch yếu cả về lập, quản lý và thực hiện quy hoạch; chất lượng thấp, chưa đồng bộ, ít khả thi. Bố trí dàn trải, thiếu tập trung vào các công trình trọng điểm, thiết yếu; chưa có kế hoạch phân bổ vốn trung và dài hạn, nhiều khi vẫn nặng về cơ chế xin - cho; chưa phát huy được nhiều tiềm năng và nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng; thiếu chế tài kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm… 

Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, tập trung phát triển mạnh mẽ hơn nữa hệ thống kết cấu hạ tầng trong 10 năm tới, Hội nghị nhấn mạnh phải quán triệt các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo sau đây : 

- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phải đồng bộ giữa các ngành, từng bước hiện đại hoá trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương; có phân kỳ đầu tư và thứ tự ưu tiên. Lựa chọn những dự án quan trọng, tạo sự đột phá và có tác động lan toả lớn để tập trung đầu tư. 

- Có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực của xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để thu hút các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; đồng thời tiếp tục dành nguồn vốn của Nhà nước đầu tư vào các công trình thiết yếu, quan trọng, khó huy động các nguồn lực xã hội. 

- Phát triển kết cấu hạ tầng vừa là lợi ích vừa là nhiệm vụ của toàn xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm tham gia đóng góp, trước hết là trong thực hiện chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng; Nhà nước bảo đảm lợi ích hài hoà giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư. 

- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh; thu hẹp khoảng cách vùng miền, gắn với tiết kiệm đất canh tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Với các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo như vậy, Trung ương xác định mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng từ nay đến năm 2020 là : Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư, giải quyết cơ bản những tắc nghẽn, quá tải, bức xúc và từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội tương đối đồng bộ, bảo đảm cho tăng trưởng nhanh, bền vững, tăng cường hội nhập quốc tế; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững chủ quyền quốc gia, xây dựng nông thôn mới, thu hẹp khoảng cách vùng miền và nâng cao đời sống của nhân dân. Cơ bản xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại, đáp ứng yêu cầu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trên cơ sở đó, chỉ rõ những định hướng phát triển 10 lĩnh vực hạ tầng chủ yếu, bao gồm : giao thông, năng lượng, thuỷ lợi, đô thị, khu công nghiệp, thương mại, thông tin, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, y tế, văn hoá - thể thao và du lịch. Trong đó, tập trung cho 4 lĩnh vực trọng tâm là : hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thuỷ lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị. 

Về định hướng các giải pháp, Trung ương yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về đầu tư; bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra. 

Về tư duy, cần nhận thức và phát huy đầy đủ, đúng đắn vai trò của Nhà nước, thị trường và các thành phần kinh tế - xã hội trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Nhà nước phải thực hiện tốt cả hai chức năng : chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ đầu tư, chủ sở hữu nhà nước. 

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư, Chính phủ và chính quyền các cấp cần chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư. Khẩn trương rà soát, hoàn chỉnh các quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đến năm 2020, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa kinh tế với xã hội; giữa cả nước với từng vùng và địa phương, giữa các ngành, lĩnh vực. Có phân kỳ đầu tư, lựa chọn những dự án quan trọng tạo sự đột phá và có sức lan toả lớn để tập trung ưu tiên đầu tư. Dự báo sát nhu cầu sử dụng và nguồn lực thực hiện; kiên quyết loại bỏ những dự án kém hiệu quả và giãn, hoãn các công trình chưa thực sự cấp bách. Tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế, nhất là luật pháp, chính sách, bộ máy tổ chức, cán bộ và cơ chế phân công, phân cấp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước nói chung và thực thi quy hoạch, kế hoạch đầu tư nói riêng. Giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên lĩnh vực này. 

Thực hiện chức năng chủ đầu tư, chủ sở hữu nhà nước, các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước, cần tăng cường, nâng cao năng lực, bảo đảm đủ sức khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực hiện có. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vị trí then chốt của doanh nghiệp nhà nước trong đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành, kinh doanh các công trình huyết mạch, có tầm chiến lược, nhất là các công trình liên quan đến quốc phòng, an ninh, không thể xã hội hoá. 

Để phát huy vai trò của thị trường, Nhà nước cần vận dụng sáng tạo cơ chế thị trường, tạo được môi trường đầu tư thật sự hấp dẫn, thuận lợi đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Đa dạng hoá các hình thức đầu tư; đẩy mạnh việc áp dụng hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP), hình thức đầu tư xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) và các dạng tương tự (BT, BTO, BLO…). Sớm triển khai việc bán hoặc nhượng quyền kinh doanh, khai thác các công trình kết cấu hạ tầng đã hoàn thành, thu hồi vốn để tiếp tục đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng mới. Sửa đổi, bổ sung chính sách về tài chính, thuế, phí, lệ phí… để tăng tính thương mại của dự án. Đổi mới, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và tăng cường kỷ cương, kỷ luật thi hành luật pháp, chính sách về đầu tư, xây dựng, đấu thầu. Chú trọng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong nước và nước ngoài. 

Muốn phát huy vai trò của xã hội, phải thống nhất nhận thức, coi phát triển kết cấu hạ tầng là sự nghiệp chung, động viên cộng đồng xã hội và toàn dân tham gia đóng góp xây dựng, quản lý, sử dụng bằng nhiều hình thức, cấp độ đa dạng, phong phú và phù hợp. Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm; khuyến khích, vinh danh các tổ chức, cá nhân có nhiều đóng góp trong xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. 

2- Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay 

Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn thảo luận với tinh thần trách nhiệm rất cao và thống nhất về sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết của Trung ương “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu : (1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. (3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất. 

Hơn 80 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình chính là bằng bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho dân tộc; bằng sự hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết chặt chẽ, vững chắc, “trăm người tiến đánh chỉ như một người”; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Thực tế, từ ngày có Đảng - do Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện - nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và nhờ thế đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới trong hơn 25 năm qua, vượt mọi khó khăn do bị bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và tiếp tục đi lên trong cơn chấn động chính trị dữ dội trên thế giới (những năm 1989 - 1991), cơn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế ở khu vực (những năm 1997 - 1998) và trên phạm vi toàn cầu trong những năm gần đây; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Tổ quốc ta, dân tộc ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay.

Thưa các đồng chí Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần đổi mới, thiết thực, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các đề án, báo cáo. Đã có gần 400 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và Hội trường; nhiều đồng chí gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào các dự thảo nghị quyết. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua nội dung các nghị quyết của Hội nghị và đã bầu bổ sung Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với kết quả rất tập trung. Trước khi kết thúc Hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, tôi xin phát biểu mấy ý kiến, làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng của Hội nghị.

1- Về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2011 - 2020 

Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và quyết định ban hành Nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kết cấu hạ tầng từ nay đến năm 2020.

Hội nghị nhất trí đánh giá: Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dành sự quan tâm lớn đến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Nhờ đó, hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giảm nhẹ thiên tai và bảo đảm an ninh - quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền. Một số công trình hiện đại đã được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, góp phần tạo diện mạo mới cho đất nước. Năng lực công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực trên các lĩnh vực xây dựng, quản lý và vận hành kết cấu hạ tầng được nâng lên. Nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng lớn và đa dạng. Các hình thức đầu tư xây dựng, vận hành, kinh doanh được đa dạng hoá, mở rộng; đầu tư của các doanh nghiệp vào các dự án giao thông ngày càng nhiều; sự đóng góp tự nguyện của nhân dân vào các công trình xây dựng hạ tầng ở nông thôn ngày càng lớn.

Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hạ tầng đô thị kém chất lượng và quá tải. Hạ tầng xã hội chất lượng thấp, thiếu về số lượng, kém về chất lượng, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục. Hạ tầng thông tin phát triển chưa đi đôi với quản lý, sử dụng một cách hiệu quả. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển chậm, chưa đồng đều, nhất là ở các tỉnh miền núi và đồng bằng Sông Cửu Long. Nhiều công trình chậm tiến độ, kém chất lượng, chi phí cao; công nghệ vận hành dịch vụ hạ tầng còn thấp, hạn chế tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém nêu trên, về chủ quan, là do tư duy về phát triển kết cấu hạ tầng chậm đổi mới, chưa phù hợp với cơ chế thị trường; đầu tư vẫn dựa vào ngân sách nhà nước là chủ yếu. Chưa tạo được sự ủng hộ mạnh mẽ và chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng xã hội. Công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, phân cấp đầu tư chưa phù hợp; có nơi, có lúc còn bị chi phối bởi tư tưởng cục bộ, lợi ích nhóm. Công tác quy hoạch yếu cả về lập, quản lý và thực hiện quy hoạch; chất lượng thấp, chưa đồng bộ, ít khả thi. Bố trí dàn trải, thiếu tập trung vào các công trình trọng điểm, thiết yếu; chưa có kế hoạch phân bổ vốn trung và dài hạn, nhiều khi vẫn nặng về cơ chế xin - cho; chưa phát huy được nhiều tiềm năng và nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng; thiếu chế tài kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm…

Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, tập trung phát triển mạnh mẽ hơn nữa hệ thống kết cấu hạ tầng trong 10 năm tới, Hội nghị nhấn mạnh phải quán triệt các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo sau đây :

- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phải đồng bộ giữa các ngành, từng bước hiện đại hoá trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương; có phân kỳ đầu tư và thứ tự ưu tiên. Lựa chọn những dự án quan trọng, tạo sự đột phá và có tác động lan toả lớn để tập trung đầu tư.

- Có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực của xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để thu hút các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; đồng thời tiếp tục dành nguồn vốn của Nhà nước đầu tư vào các công trình thiết yếu, quan trọng, khó huy động các nguồn lực xã hội.

- Phát triển kết cấu hạ tầng vừa là lợi ích vừa là nhiệm vụ của toàn xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm tham gia đóng góp, trước hết là trong thực hiện chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng; Nhà nước bảo đảm lợi ích hài hoà giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

- Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh; thu hẹp khoảng cách vùng miền, gắn với tiết kiệm đất canh tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Với các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo như vậy, Trung ương xác định mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng từ nay đến năm 2020 là : Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư, giải quyết cơ bản những tắc nghẽn, quá tải, bức xúc và từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội tương đối đồng bộ, bảo đảm cho tăng trưởng nhanh, bền vững, tăng cường hội nhập quốc tế; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững chủ quyền quốc gia, xây dựng nông thôn mới, thu hẹp khoảng cách vùng miền và nâng cao đời sống của nhân dân. Cơ bản xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại, đáp ứng yêu cầu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trên cơ sở đó, chỉ rõ những định hướng phát triển 10 lĩnh vực hạ tầng chủ yếu, bao gồm : giao thông, năng lượng, thuỷ lợi, đô thị, khu công nghiệp, thương mại, thông tin, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, y tế, văn hoá - thể thao và du lịch. Trong đó, tập trung cho 4 lĩnh vực trọng tâm là : hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thuỷ lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị.

Về định hướng các giải pháp, Trung ương yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về đầu tư; bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra.

Về tư duy, cần nhận thức và phát huy đầy đủ, đúng đắn vai trò của Nhà nước, thị trường và các thành phần kinh tế - xã hội trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Nhà nước phải thực hiện tốt cả hai chức năng : chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ đầu tư, chủ sở hữu nhà nước.

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư, Chính phủ và chính quyền các cấp cần chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư. Khẩn trương rà soát, hoàn chỉnh các quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đến năm 2020, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa kinh tế với xã hội; giữa cả nước với từng vùng và địa phương, giữa các ngành, lĩnh vực. Có phân kỳ đầu tư, lựa chọn những dự án quan trọng tạo sự đột phá và có sức lan toả lớn để tập trung ưu tiên đầu tư. Dự báo sát nhu cầu sử dụng và nguồn lực thực hiện; kiên quyết loại bỏ những dự án kém hiệu quả và giãn, hoãn các công trình chưa thực sự cấp bách. Tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế, nhất là luật pháp, chính sách, bộ máy tổ chức, cán bộ và cơ chế phân công, phân cấp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước nói chung và thực thi quy hoạch, kế hoạch đầu tư nói riêng. Giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên lĩnh vực này.

Thực hiện chức năng chủ đầu tư, chủ sở hữu nhà nước, các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước, cần tăng cường, nâng cao năng lực, bảo đảm đủ sức khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực hiện có. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vị trí then chốt của doanh nghiệp nhà nước trong đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành, kinh doanh các công trình huyết mạch, có tầm chiến lược, nhất là các công trình liên quan đến quốc phòng, an ninh, không thể xã hội hoá.

Để phát huy vai trò của thị trường, Nhà nước cần vận dụng sáng tạo cơ chế thị trường, tạo được môi trường đầu tư thật sự hấp dẫn, thuận lợi đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Đa dạng hoá các hình thức đầu tư; đẩy mạnh việc áp dụng hình thức đầu tư kết hợp công - tư (PPP), hình thức đầu tư xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) và các dạng tương tự (BT, BTO, BLO…). Sớm triển khai việc bán hoặc nhượng quyền kinh doanh, khai thác các công trình kết cấu hạ tầng đã hoàn thành, thu hồi vốn để tiếp tục đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng mới. Sửa đổi, bổ sung chính sách về tài chính, thuế, phí, lệ phí… để tăng tính thương mại của dự án. Đổi mới, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và tăng cường kỷ cương, kỷ luật thi hành luật pháp, chính sách về đầu tư, xây dựng, đấu thầu. Chú trọng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong nước và nước ngoài.

Muốn phát huy vai trò của xã hội, phải thống nhất nhận thức, coi phát triển kết cấu hạ tầng là sự nghiệp chung, động viên cộng đồng xã hội và toàn dân tham gia đóng góp xây dựng, quản lý, sử dụng bằng nhiều hình thức, cấp độ đa dạng, phong phú và phù hợp. Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm; khuyến khích, vinh danh các tổ chức, cá nhân có nhiều đóng góp trong xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.

2- Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay

Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn thảo luận với tinh thần trách nhiệm rất cao và thống nhất về sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết của Trung ương “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu : (1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. (3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Hơn 80 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình chính là bằng bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho dân tộc; bằng sự hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết chặt chẽ, vững chắc, “trăm người tiến đánh chỉ như một người”; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Thực tế, từ ngày có Đảng - do Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện - nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và nhờ thế đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới trong hơn 25 năm qua, vượt mọi khó khăn do bị bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và tiếp tục đi lên trong cơn chấn động chính trị dữ dội trên thế giới (những năm 1989 - 1991), cơn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế ở khu vực (những năm 1997 - 1998) và trên phạm vi toàn cầu trong những năm gần đây; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Tổ quốc ta, dân tộc ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay.

Notes